THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC SAU SÁP NHẬP NGÀY 01/07/2025
Ngày 01/07/2025 - đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc sắp xếp lại đơn vị hành chính tại Việt Nam. Theo đó, số lượng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được điều chỉnh giảm từ 63 đơn vị xuống còn 34 đơn vị. Cùng với sự thay đổi này, hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) cũng được tái cấu trúc toàn diện, hình thành: 34 TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 355 TAND khu vực thay thế cho hệ thống TAND cấp huyện trước đây.
Những cải cách mạnh mẽ này không chỉ làm thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy Toà án nhân dân mà còn tác động trực tiếp và sâu rộng đến việc phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp. Đặc biệt, thẩm quyền của Toà án nhân dân khu vực được mở rộng đáng kể, trong khi chức năng và vai trò của Toà án cấp tỉnh cũng được điều chỉnh để phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Trong phạm vi bài viết này, Công ty Luật TNHH MTV Hãng luật Anh Bằng xin gửi tới Quý khách hàng cái nhìn tổng quan về sự thay đổi thẩm quyền của TAND các cấp trước và sau khi sáp nhập.

A. Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, huyện trước ngày 01/07/2025.
1. Thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh.
Căn cứ Điều 37 Luật Tổ chức TAND 2014, Điều 37 BLTTDS 2015, Điều 32 Luật TTHC 2015 quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Về sơ thẩm:
- Các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS 2015), trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện;
- Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (Điều 27, 29, 31 và 33 BLTTDS 2015), trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện;
- Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015;
- Có thẩm quyền lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện (Điều 35 BLTTDS 2015) khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện.
- Khiếu kiện QĐHC, HVHC của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, TAND tối cao, VKSND tối cao và QĐHC, HVHC của người có thẩm quyền trong cơ quan đó;
- Khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan thuộc một trong các CQNN quy định nêu trên và QĐHC, HVHC của người có thẩm quyền trong cơ quan đó;
- Khiếu kiện QĐHC, HVHC của CQNN cấp tỉnh, UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện;
- Khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan đại diện của nước CHXH Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó;
- Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương;
- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
- Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện (Điều 31 Luật TTHC 2015).
Về phúc thẩm: Các vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án TAND cấp cao, Chánh án TAND tối cao xem xét, kháng nghị.
2. Thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.
Căn cứ Điều 44 Luật Tổ chức TAND 2014, Điều 35 BLTTDS 2015, Điều 31 Luật TTHC 2015 quy định: TAND cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với các vụ án, vụ việc sau:
Về dân sự:
- Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình (Điều 26, 28 BLTTDS 2015, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 BLTTDS 2015;
- Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015;
- Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 BLTTDS 2015.
- Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 BLTTDS 2015;
- Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 BLTTDS 2015;
- Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1, 6 Điều 31 BLTTDS 2015;
- Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1, 5 Điều 33 BLTTDS 2015.
- Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1, 2 Điều 35 BLTTDS 2015 mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 35 BLTTDS 2015.
- TAND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Về hành chính:
- Khiếu kiện QĐHC, HVHC của CQHC nhà nước từ cấp huyện trở xuống, trừ QĐHC, HVHC của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện;
- Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống;
- Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri;
B. Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực sau ngày 01/07/2025.
Ngày 24/06/2025 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật số 81/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân số 24/2024/QH15. Trên cơ sở Luật Tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi, ngày 27/06/2025, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
Theo đó, từ ngày 01/07/2025, hệ thống Toà án nhân dân tại Việt Nam được tổ chức lại theo mô hình 3 cấp thay vì 4 cấp như trước đây, bao gồm: Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
1. Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.
Theo quy định tại Điều 55 Luật Tổ chức TAND sửa đổi bổ sung 2025 và Điều 4 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thẩm quyền của các TAND, từ ngày 01/07/2025, TAND cấp tỉnh tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền sau:
Về sơ thẩm:
- Các vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, giải quyết phá sản và các vụ việc khác mà Toà án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý trước ngày 01/07/2025 nhưng chưa giải quyết xong;
- Các vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh bị huỷ để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm;
- Các vụ án hình sự về các tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 20 năm tù, tù chung thân, tử hình và những vụ án khác theo quy định của luật.
Về phúc thẩm:
- Các vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND khu vực chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật;
- Các vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định phúc thẩm của TAND cấp tỉnh bị huỷ để giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Về giám đốc thẩm, tái thẩm:
- Xem xét theo thủ tục GĐT, tái thẩm đối với bản án, quyết định của TAND cấp huyện, TAND khu vực đã có hiệu lực pháp luật;
- Xem xét theo thủ tục GĐT, tái thẩm đối với bản án, quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật mà TAND cấp cao đã thụ lý trước ngày 01/07/2025 nhưng chưa giải quyết xong.
Thẩm quyền khác:
- Giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc theo quy định;
- Giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của TAND cấp huyện, TAND khu vực trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND;
- Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của TAND cấp huyện, TAND khu vực;
- Xem xét, ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hoà giải thành, đối thoại thành tại Toà án đối với trường hợp TAND cấp tỉnh đã tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hoà giải, đối thoại tại Toà án và các bên có yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành, đối thoại thành;
- Thực hiện yêu cầu uỷ thác tư pháp về dân sự của nước ngoài, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm yêu cầu dẫn độ, yêu cầu chuyển giao hoặc tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà TAND cấp tỉnh đã thụ lý trước ngày 01/07/2025 nhưng chưa giải quyết xong;
- Kiến nghị Chánh án TAND tối cao xem xét, kháng nghị theo thủ tục GĐT, tái thẩm bản án, quyết định của TAND cấp tỉnh, Toà Phúc thẩm TAND tối cao đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật;
Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn TAND cấp tỉnh được sửa đổi, bổ sung theo hướng: (1) Bổ sung nhiệm vụ Giám đốc thẩm, Tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực; (2) Thực hiện nhiệm vụ phúc thẩm vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; (3) Thực hiện nhiệm vụ sơ thẩm vụ án hình sự về các tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân, tử hình và những vụ án khác theo quy định pháp luật; (4) Chuyển nhiệm vụ sơ thẩm các vụ án hình sự về các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù; vụ án hành chính; vụ án, vụ việc dân sự và cá vụ việc khác cho TAND khu vực, trừ vụ việc về yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc; (5) Giao cho TAND TP Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh thẩm quyền giải quyết đối với yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.
2. Thẩm quyền của TAND khu vực.
Theo quy định tại Điều 59 Luật Tổ chức TAND sửa đổi bổ sung 2025 và Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, từ ngày 01/07/2025, TAND cấp khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền sau:
Về sơ thẩm:
- Các vụ án hình sự về các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù;
- Tất cả các vụ án hành chính quy định tại Điều 31 LTTHC sửa đổi, bổ sung 2025; vụ án, vụ việc dân sự quy định tại Điều 35 BLTTDS 2015 và các vụ việc khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, trừ các vụ việc giải quyết đối với yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc;
- Các vụ án, vụ việc; giải quyết vụ việc phá sản và các vụ việc khác mà TAND cấp huyện đã thụ lý nhưng chưa giải quyết xong;
- Các vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định của TAND khu vực, TAND cấp huyện bị huỷ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Giải quyết vụ việc phá sản mà quyết định của TAND khu vực, TAND cấp huyện bị huỷ để giải quyết lại;
Thẩm quyền khác:
- Thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động hoà giải, đối thoại tại Toà án;
- Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND, việc đưa người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Giải quyết vụ việc bắt giữ tàu bay, tàu biển thuộc thẩm quyền của TAND khu vực mà TAND cấp tỉnh đã tiếp nhận đơn yêu cầu trước ngày 01/07/2025 nhưng chưa thụ lý;
- Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp;
- Kiến nghị Chánh án TANDTC, Chánh án TAND cấp tỉnh xem xét, kháng nghị theo thủ tục GĐT, tái thẩm bản án, quyết định của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện, TAND khu vực đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật.
Như vậy, nhiệm vụ quyền hạn của TAND khu vực được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng hơn thẩm quyền như: (1) Xét xử theo thủ tục sơ thẩm các vụ án hình sự về các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù; (2) Xét xử theo thủ tục sơ thẩm tất cả các vụ án hành chính, vụ án, vụ việc dân sự và các vụ việc khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, trừ các vụ việc giải quyết đối với yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc; (3) Giao thẩm quyền giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm các vụ việc phá sản, sở hữu trí tuệ cho Toà Phá sản, Toà Sở hữu trí tuệ tại một số TAND khu vực ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh.
Kết luận:
Có thể khẳng định rằng, việc hình thành Toà án nhân dân khu vực để thay thế cho hệ thống TAND cấp huyện trước đây từ ngày 01/07/2025 là một bước đi quan trọng trong lộ trình cải cách tư pháp nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực hiệu quả trong hoạt động tư pháp và bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật. Với vai trò đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, Công ty Luật TNHH MTV Hãng luật Anh Bằng luôn sẵn sàng trợ giúp, cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp và kịp thời; hỗ trợ khách hàng tiếp cận đầy đủ, chính xác các quy định mới, từ đó có phương án bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của người dân và doanh nghiệp.
Trân trọng.
CÔNG TY LUẬT TNHH MTM HÃNG LUẬT ANH BẰNG. (Since 2007)
HN: P 905, tòa CT 4-5, ngõ 6, phố Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, Hà Nội
HCM: Số 15B, đường số 22, khu phố 11, phường Bình Hưng Hòa, HCM
☎ 0243.7.675.594 * 0913 092 912 * 0982 692 912 (Zalo)
luatsuanhbang@gmail.com | W: hangluatanhbang.vn
